|

Việc gia hạn tăng vốn điều lệ cho các Ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỉ thêm 1 năm đến 31/12/2011 thực chất nhằm giải cứu các Ngân hàng thương mại (NHTM) khỏi những hệ lụy xấu từ việc phải sáp nhập, giải thể hoặc bán cổ phần. Ông Cao Sỹ Kiêm – nguyên Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã trao đổi thẳng thắn với phóng viên xung quanh quyết định hoãn thực hiện nghị định 141 về tăng vốn điều lệ cho các NHTM.
Việc hoãn thực hiện nghị định 141 nhằm để giải cứu những NHTM không đủ vốn pháp định nhưng theo nhiều chuyên gia, điều này cũng tạo nên một tiền lệ không tốt. Ông lý giải như thế nào về quyết định trên của Chính phủ?
Nếu chúng ta vẫn giữ nguyên quan điểm thực hiện đúng hạn, huy động vốn sẽ triệt để, làm cho tình hình vốn căng lên, ngân hàng không đáp ứng được sẽ phải giải thể, sáp nhập hoặc bán cổ phần.
Cả 3 trường hợp này đều có hệ quả xấu. Nếu bán cổ phần ra thì cũng không có ai mua vì đang thiếu vốn và giá cổ phiếu sẽ rất thấp.
Nếu sáp nhập thì những ngân hàng lớn sẽ không bao giờ sáp nhập với ngân hàng nhỏ, còn ngân hàng nhỏ chấp nhận sáp nhập thì sẽ phải tuân theo điều kiện của ngân hàng lớn. Mặt khác, trong tình hình khó khăn, hầu hết các ngân hàng sẽ đều rất ngại sáp nhập, mở rộng ngay.
Trường hợp xấu nhất là giải thể thì có quá nhiều hậu quả đi kèm như: xử lý các cổ phần đóng góp, cơ sở vật chất và việc làm cho lao động…
Đặc biệt, việc giải thể này không phải do các yếu tố chủ quan như: làm ăn kém hiệu quả, mất khả năng thanh khoản, mà do yếu tố khách quan, nên chắc chắn sẽ tạo nên tâm lý không đồng tình của các ngân hàng.
Đã có một lộ trình 5 năm để các ngân hàng tăng vốn điều lệ nhưng họ vẫn không thực hiện được đúng thời hạn?
Việc tăng vốn điều lệ mặc dù có lộ trình khá dài, nhưng do việc thực hiện không mạnh mẽ và tích cực từ phía các tổ chức tín dụng (TCTD) cũng như vai trò quản lý thực hiện của Ngân hàng nhà nước. Do vậy, tuy đã đến hạn cuối nhiều ngân hàng vẫn chưa thực hiện được, đặc biệt là các ngân hàng nông thôn.
Việc không đúng hạn này là do trong suốt lộ trình thực hiện, tình lạm phát tăng cao, kinh tế suy giảm, dẫn đến khả năng thanh khoản mỏng đi, hạn chế đáp ứng tín dụng.
Đặc biệt, trong mấy quý cuối năm 2010, lạm phát lại tiếp tục tăng cao, khả năng huy động vốn giảm sút. Do vậy, không hoàn thành đúng hạn được. Thời gian gần đây những biến động về lãi suất, tỷ giá và giá vàng đã khiến cho thị trường tiền tệ biến động bất thường. Vậy nếu là Thống đốc Ngân hàng nhà nước, ông sẽ thực hiện những giải pháp gì để ổn định tình hình?
Sự biến động này là do điều hành không linh hoạt, các chính sách đưa ra không kịp thời, phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ không nhịp nhàng.
Ví dụ để giá vàng không leo thang, thì phải công bố ngay việc nhập vàng, ai nhập, bao giờ nhập, số liệu bao nhiêu. Có thông tin và tỏ thái độ rõ ràng thì chắc chắn giá vàng sẽ sụt xuống ngay.
Hay muốn chống lạm phát thì phải thắt chặt tiền tệ. Nhưng một mình ngân hàng nhà nước làm thì không được vì còn liên quan đến tiền tung ra qua ngân sách, bội chi, chi tiêu công, hiệu quả đầu tư, nhập siêu…Do đó, phải phối hợp nhịp nhàng với chính sách tài khóa.
Một ví dụ tôi cho điển hình nhất là trong lúc thị trường khó khăn thế này, nhưng những người quản lý lại tuyên bố không thống nhất với nhau. Người thì nói thả lỏng cho vay thỏa thuận, như vậy chắc chắn các ngân hàng sẽ đua nhau tăng lãi suất. Bài học cụ thể là việc ngân hàng Techcombank đưa ra mức lãi suất lên đến 17%.
Trong lúc khó khăn này phải thắt chặt, chứ cho thỏa thuận, thiệt thòi nhất sẽ là những người sản xuất kinh doanh vì bị ép mức lãi suất quá cao.
Vốn lòng vòng, doanh nghiệp đành tiếp cận nguốn tín dụng đen
Còn có một vấn đề khác là tình trạng các NHTM vay vốn của nhau để kinh doanh. Việc vay lại vốn giữa các ngân hàng này có thực sự an toàn và liệu nguồn vốn có được đảm bảo không?
Cái này gọi là “bán lẻ và bán buôn”. Ngân hàng có tiềm lực lớn thì hoặc là mang vào thị trường liên ngân hàng cho vay (bán buôn), hoặc cho vay trực tiếp (bán lẻ).
Ngân hàng lớn bao giờ cũng có lợi, còn những ngân hàng vay lại thì phải chấp nhận mức giá cao hơn.
Nếu cho vay để phục vụ sản xuất kinh doanh là tốt nhất. Còn cho vay lẫn nhau thường vòng qua rất nhiều vòng và có yếu tố tăng chi phí lên.
Vì vay “vòng vo” nên nguồn vốn có thể bị đọng lại, nên vốn cho sản xuất kinh doanh chậm lại, thậm chí còn mang tính đầu cơ.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp phải tìm đến nguồn tín dụng đen.
Vậy chúng ta đã có biện pháp gì để khắc phục tình trạng này, thưa ông? Chúng ta đang xây dựng và hình thành thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng. Vốn chưa sử dụng đến thì đưa vào thị trường để vay qua đêm, bổ sung nguồn vốn thiếu.
Xin cảm ơn ông!
Theo Bee
|